“Ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước hướng tới phát triển Chính phủ điện tử” là chủ đề của cuộc trả lời trực tuyến thứ 9 của Bộ TT&TT, do Thứ trưởng Nguyễn Minh Hồng chủ trì, bắt đầu từ 8h30 ngày 9/12/2008.
Nhận thức được vai trò quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong các cơ quan nhà nước nhằm đổi mới phương thức quản lý, quy trình điều hành, nâng cao hiệu quả hoạt động, phục vụ nhân dân tốt hơn, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã triển khai nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước, hướng tới phát triển chính phủ điện tử.
Trong năm 2008, thực hiện Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg ngày 24/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ TT&TT đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan khẩn trương triển khai các hoạt động cụ thể. Bộ cũng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, đôn đốc việc ứng dụng CNTT tại các Bộ, ngành, địa phương.
Cùng với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, sự hướng dẫn đôn đốc của các cơ quan quản lý chuyên ngành, trong thời gian qua, việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước đã bước đầu đạt được một số kết quả cụ thể; tiêu biểu như: Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ thực hiện các Hội nghị trên môi trường mạng làm giảm đáng kể chi phí hội họp với các địa phương, tăng cường sử dụng thư điện tử, ứng dụng CNTT trong việc quản lý văn bản, điều hành làm giảm văn bản giấy tờ, tăng tốc độ, hiệu quả xử lý công việc; hầu hết các Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử để cung cấp thông tin và dịch vụ công phục vụ người dân và doanh nghiệp (20/22 Bộ, 59/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có trang thông tin điện tử).
Mặc dù vậy, so với những yêu cầu đặt ra, việc ứng dụng CNTT trong nội bộ nhiều cơ quan nhà nước nói chung còn mang tính nhỏ lẻ, chủ yếu là phục vụ công tác văn thư, quản lý tài chính, nhân sự; các dịch vụ công trực tuyến chủ yếu ở mức 1, mức 2 (mới chỉ cung cấp thông tin về quy trình thủ tục hành chính và các biểu mẫu điện tử...), CNTT chưa thực sự được lãnh đạo các cấp xác định là công cụ quan trọng trong chương trình cải cách hành chính, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong thời gian tới, các Bộ, ngành, địa phương cần phải có quyết tâm, giải pháp quyết liệt hơn mới có thể thúc đẩy ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước để đáp ứng nhu cầu đặt ra, hướng tới phát triển Chính phủ điện tử.
Trên tinh thần này, tiếp theo buổi trả lời trực tuyến về “Ứng dụng và Phát triển CNTT” ngày 29/02/2008, Bộ TT&TT tiếp tục cung cấp, chuyển tải, giải đáp, đặc biệt muốn tiếp nhận các thông tin, ý kiến từ phía người dân và xã hội về các vấn đề liên quan đến chủ đề "Ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước hướng tới phát triển Chính phủ điện tử". Trong buổi giao lưu trực tuyến, những người tham gia sẽ trao đổi ý kiến về hiện trạng, cơ chế chính sách, định hướng, kế hoạch phát triển đối với: Hạ tầng kỹ thuật phục vụ ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước; các nội dung ứng dụng CNTT trong nội bộ các cơ quan nhà nước; các nội dung ứng dụng CNTT hướng tới phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Buổi trả lời trực tuyến do Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Minh Hồng chủ trì, được thực hiện trên cổng thông tin điện tử của Bộ http://www.mic.gov.vn. Buổi trả lời trực tuyến sẽ diễn ra từ 8h30 kéo dài đến 11h30 ngày 09/12/2008 trên website Bộ TT&TT.

Thứ trưởng Nguyễn Minh Hồng bắt đầu buổi trả lời trực tuyến lúc 8h30 sáng 09/12/2008.
Sau đây là nội dung buổi trả lời trực tuyến:
Thứ trưởng Nguyễn Minh Hồng:
Xin kính chào và cám ơn các Quý vị độc giả đã quan tâm đến công tác “Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước hướng tới phát triển Chính phủ điện tử”, một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Cho đến giờ phút này, chúng tôi đã nhận được gần 30 câu hỏi, ý kiến trao đổi, phân tích, và cả những đề xuất. Rất nhiều ý kiến chứa đầy sự trăn trở, tâm huyết, có những lời tâm sự và cả những băn khoăn, lo lắng. Tôi hy vọng rằng trong khoảng 3 giờ đồng hồ tới, các Quý vị sẽ cùng chúng tôi trao đổi được nhiều thông tin, chia sẻ được nhiều ý tưởng, đề xuất được những giải pháp hữu hiệu, giúp cho việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan quan nhà nước không ngừng được đẩy mạnh, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy nhà nước, thúc đẩy cải cách hành chính, cung cấp được nhiều tiện ích, nhiều dịch vụ công cho người dân và cho toàn xã hội, tiến tới có được một Chính phủ điện tử theo nghĩa đầy đủ của cụm từ này trong tương lai không xa.
Độc giả: Dương Văn Nhân - 25 Nguyễn Văn Thêm, P3, Tp Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
Kính chào Thứ trưởng! Việc triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước đã bị chùng xuống sau sự thất bại của Đề án 112, cộng với việc suy giảm kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam. Hai nguyên nhân lớn này đã làm cho việc triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước trong giai đoạn hiện nay gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là các tỉnh chưa cân đối được ngân sách. Trong buổi giao lưu trực tuyến hôm nay, rất mong Thứ Trưởng giải đáp một số vấn đề hoặc chia sẽ thông tin, kinh nghiệm nhằm giúp cho Sở Thông tin và Truyền thông tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc: Thứ nhất: Việc triển khai ứng dụng CNTT đòi hỏi phải có một chi phí tối thiểu đảm bảo cho hệ thống hoạt động hiệu quả (mức sàn), tuy nhiên mức sàn này không dễ gì được Sở Tài chính chấp thuận và thông thường người nắm giữ tiền sẽ có quyền quyết định cao hơn. Điều này đã gây không ít khó khăn cho Sở Thông tin và Truyền thông trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đồng thời gây đổ vỡ kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước trên địa bàn tỉnh, dẫn đến việc không thể đạt được mục tiêu đặt ra theo tinh thần chung của Chính phủ. Xin Thứ Trưởng cho biết Bộ Thông tin và Truyền thông đã có cơ chế, chính sách, giải pháp gì để tháo gỡ khó khăn cho Sở Thông tin và Truyền thông trong việc triển khai thực hiện Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước? Thư hai: Việc tiếp nhận các kết quả của Đề án 112 đã được Sở Thông tin và Truyền thông thực hiện theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ. Tuy nhiên việc tiếp nhận chỉ đã dừng lại ở việc tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ và các thiết bị phần cứng tương đối lạc hậu. Xin Thứ Trưởng cho biết Bộ Thông tin và Truyền thông đã có định hướng gì để giúp cho Sở Thông tin và Truyền thông tận dụng và khai thác hiệu quả các kết quả này, đặc biệt là các phần mềm dùng chung? Thư ba: Xin Thứ Trưởng cho biết kinh phí hỗ trợ cho các tỉnh khó khăn theo Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg, ngày 24/03/2008 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước năm 2008 đã được các Bộ, Ngành Trung ương xử lý ra sao? Trân trọng kính chào Thứ Trưởng ! Chúc Thứ Trưởng dồi dào sức khoẻ để tiếp tục có những cống hiến quan trọng cho ngành CNTT của nước nhà.
Trả lời:
Tôi nhất trí với bạn, thất bại của Đề án 112 gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, gây tâm lý e ngại khi xem xét, giải quyết các việc liên quan đến các dự án ứng dụng CNTT.
a) Đối với khó khăn thứ nhất: Đúng là việc triển khai ứng dụng CNTT đòi hỏi phải có một chi phí tối thiểu đảm bảo cho hệ thống hoạt động hiệu quả. Trong các dự án ứng dụng CNTT, bên cạnh phần cứng (hữu hình), các sản phẩm phần mềm là vô hình, rất khó xác định giá trị, cùng với tâm lý e ngại nêu trên, làm cho tiến độ phê duyệt trở nên khó khăn.
Bộ TT&TT đã xây dựng và trình Chính phủ dự thảo Nghị định ban hành Quy chế quản lý các dự án đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng vốn ngân sách nhà nước; Bộ đã ban hành văn bản hướng dẫn phương pháp xác định giá trị phần mềm. Hy vọng rằng các văn bản này sẽ góp phần tháo gỡ một phần những vướng mắc đó.
Còn một lý do nữa là do Lãnh đạo tỉnh chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Trong năm 2008, Lãnh đạo Bộ TT&TT đã gặp gỡ Lãnh đạo nhiều địa phương để thuyết phục Lãnh đạo các địa phương này quan tâm đầu tư cho ứng dụng CNTT. Đến cuối năm 2008 Bộ sẽ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương báo cáo về kết quả triển khai QĐ 43 của Thủ tướng Chính phủ. Trên cơ sở báo cáo chính thức của các tỉnh, Bộ sẽ báo cáo, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ các biện pháp cần thiết để đẩy mạnh ứng dụng CNTT ở các Bộ, ngành, địa phương.
b) Đối với khó khăn thứ hai: Tiếp nhận kết quả Đề án 112 là tiếp nhận trách nhiệm nặng nề và hết sức khó khăn. Ở Trung ương, từ cuối năm 2007, Bộ TT&TT đã tiếp nhận kết quả Đề án 112 Chính phủ. Bộ đã thành lập Ban Quản lý kết quả Đề án 112 nhằm giúp Bộ quản lý, tận dụng và khai thác hiệu quả các kết quả Đề án. Nhưng trong suốt năm 2008, Ban Quản lý kết quả Đề án 112 chủ yếu phục vụ cho công tác của cơ quan điều tra, kiểm toán. Các tài liệu, sản phẩm cũng không thể đưa ra sử dụng, khai thác được vì các hợp đồng đều chưa được thanh lý.
Trong công văn hướng dẫn gửi các địa phương, Bộ TT&TT đã đề nghị UBND các tỉnh chỉ đạo Sở TT&TT căn cứ vào kết quả đề án 112 để đề xuất kế hoạch ứng dụng CNTT trong những năm tiếp theo nhằm khai thác tối đa các kết quả của Đề án 112.
c) Về kinh phí hỗ trợ cho các tỉnh khó khăn theo Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg, ngày 24/03/2008 của Thủ tướng Chính phủ, tôi xin tóm lược quá trình xử lý việc cấp kinh phí hỗ trợ của Trung ương như sau:
- Thực hiện QĐ 43 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 20/5/2008, sau khi thống nhất với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính, Bộ Thông tin và Truyền thông (TTTT) đã có công văn số 1577/BTTTT-KHTC hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương xây dựng dự toán kinh phí ứng dụng CNTT năm 2008. Với sự đôn đốc của Bộ TTTT, các Bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai các thủ tục để trình phê duyệt các dự án đầu tư và dự toán kinh phí ứng dụng CNTT năm 2008 thực hiện Quyết định 43.
- Ngày 15/7/2008, Bộ TTTT đã có công văn số 2268/BTTT-KHTC gửi Bộ Tài chính đề nghị cấp phát kinh phí đợt I cho các dự án đầu tư, dự toán kinh phí của các Bộ, tỉnh, thành phố có đủ thủ tục. Ngày 5/9/2008, Bộ TTTT đã có Tờ trình Thủ tướng Chính phủ số 2837/TTr-BTTTT về việc giao bổ sung kinh phí ứng dụng CNTT năm 2008.
- Sau khi nhận được Tờ trình trên, ngày 19/9/2008, Văn phòng Chính phủ đã có Công văn số 6211/VPCP-KTTH gửi xin ý kiến Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và ngày 29/10/2008, Văn phòng Chính phủ đã có Công văn số 7358/VPCP - KTTH gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ TTTT, thông báo ý kiến của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân giao Bộ TTTT xác định rõ danh mục các dự án đủ thủ tục có thể triển khai trong năm 2008 và Bộ Tài chính đề xuất nguồn vốn (nguồn dự phòng ngân sách trung ương năm 2008 hoặc tạm ứng vốn kế hoạch năm 2009) để thực hiện các dự án trong năm 2008, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.
- Thực hiện yêu cầu nêu trên và kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Trưởng Ban CĐ quốc gia về CNTT tại Phiên họp BCĐ ngày 21/11/2008, Hai Bộ TT&TT và Tài chính đã rà soát và thống nhất danh mục dự án, nhiệm vụ CNTT và nguồn vốn ứng dụng CNTT năm 2008 đủ thủ tục. Ngày 5/12/2008, Bộ TT&TT đã có Tờ trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị giao bổ sung dự toán năm 2008 cho các Bộ, tỉnh triển khai các nhiệm vụ ứng dụng CNTT nêu trong QĐ 43 của TTgCP đồng thời đề nghị cho phép kéo dài thời gian thực hiện các nhiệm vụ này sang năm 2009.
Hy vọng rằng, Thủ tướng Chính phủ sẽ có quyết định giao bổ sung dự toán năm 2008 cho các Bộ, địa phương triển khai các nhiệm vụ ứng dụng CNTT theo QĐ 43 trong thời gian sớm nhất.
Độc giả: Nguyễn Đạt - sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Yên Bái
Kính thưa Thứ trưởng! Thời gian vừa qua, sau Đề án 112, các cơ quan hành chính rất tin tưởng vào Bộ Thông tin và Truyền thông về việc ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước theo Nghi định 64/2008/QĐ-NĐ-CP sẽ mở ra một hướng mới trong ứng dụng CNTT phục vụ hoạt động chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Nhà nước. Nhưng trong quá trình thực hiện, các đơn vị hành chính gặp thất vọng vì quá trình triển khai đặt ra như thế, nhưng thực sự triển khai rất chậm, từ TW đã chậm, quyết định của Thủ tướng nhưng đến nay địa phương đã ra quyết định triển khai nhưng chỉ trên giấy tờ còn thực tế không có vốn. Xin hỏi, như các đồng chí đã biết muốn ứng dụng CNTT có hiệu quả phải có quyết tâm từ lãnh đạo các đơn vị, nhưng văn bản từ cấp chính phủ đã ban hành mà không có hiệu lực thì làm sao thuyết phục được lãnh đạo các đơn vị. Các đơn vị hỏi Sở Thông tin và Truyền thông câu hỏi" Bộ Thông tin nói sẽ có đổi mới trong cách làm 112 vậy cách làm mới có hiệu quả không, qua thực tế này thì cho thấy chưa có gì đổi mới cả, Trung ương thì cứ nói còn làm chưa thấy đâu?" vậy sẽ trả lời các đơn vị như thế nào? rất mong các đồng chí cho ý kiến.
Trả lời:
Đây là năm đầu tiên Bộ TT&TT chỉ đạo triển khai Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước (theo QĐ 43 của TTgCP) nên không tránh khỏi những vướng mắc. Hơn nữa, QĐ 43 của TTgCP ban hành vào cuối tháng 3/2008 nên việc triển khai các nhiệm vụ ứng dụng CNTT năm 2008 không đồng bộ với kế hoạch ngân sách TW, cần có thời gian để các Bộ, tỉnh xây dựng dự án, dự toán và cần nhiều thời gian để Bộ TT&TT, Bộ KH-ĐT, Bộ TC thống nhất cách thức trình TTgCP quyết định giao bổ sung dự toán kinh phí. Việc giao dự toán kinh phí chậm là do phải thực hiện nhiều thủ tục, chứ không hề có chuyện thiếu quyết tâm từ các cơ quan Trung ương.
Hy vọng rằng với những kinh nghiệm tích lũy được trong năm 2008, trong năm 2009 Bộ TT&TT sẽ phối hợp nhịp nhàng hơn với Bộ KH-ĐT, Bộ TC trong việc chỉ đạo triển khai các dự án, nhiệm vụ ứng dụng CNTT.
Độc giả: Quốc Trường - Hà Nội
Kính thưa thứ trưởng Nguyễn Minh Hồng, trong buổi giao lưu trực tuyến lần này xin có câu hỏi về Quyết địnhh 43/2008/QĐ-TTg về Phê duyệt kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2008. Tôi thấy các Bộ, ngành, địa phương đều xây dựng dự án đầu tư theo quyết định này nhưng cho đến nay vẫn chưa rót vốn cho các dự án này. Vậy Thứ trưởng cho biết ông có nắm được tình hình cấp vốn cho các dự án dạng này không? Nếu cấp vốn vào thời điểm này thì liệu có hoàn thành dự án trong năm 2008 này không? Thủ tục hành chính trong đấu thầu cần thời gian mới đảm bảo an toàn và chính xác, theo ông nhận định thì sau khi cấp vốn bao lâu sau thì có thể hoàn thành hay lại giống như dự án 112 trước đây??? Là người phụ trách công nghệ thông tin của Bộ TT&TT ông có thấy việc cơ quan nhà nước cứ đưa ra các chính sách không thực tế với tình hình (chủ trương thì có nhưng không lấy đâu ra tiền để chi) là làm việc không hiệu quả và gây mất thời gian cho các đơn vị thực hiện hay không? Ngoài ra khi phê duyệt các dự án kiểu này các cơ quan quản lý nhà nước đã có chủ trương xây dựng thực sự chưa hay chỉ cấp vốn (không đủ quy mô của dự án), cấp vốn gọi là có, đầu tư dàn trải cho có vẻ quan tâm thôi. Ở các địa phương giờ đua nhau xây cổng điện tử (không biết để làm gì?) nội dung thì không có, chả có thông tin gì? Tại sao Nhà nước không đầu tư vào một chỗ cho nó ra đầu tư còn các chỗ khác không đủ năng lực thì thôi. Đối với các bộ ngành cũng vậy, đầu tư cổng thông tin của bộ cho nó ra cổng thông tin cứ đầu tư vài tỉ làm gì chỉ tổ lãng phí, rồi các đơn vị con cũng xây dựng cổng con con gọi là "ngõ", mỗi cái vài ba tỉ thế có phải là lãng phí không? Tôi có mấy câu vừa là tâm sự vừa là câu hỏi mong Thứ trưởng bớt chút thời gian trả lời. Xin cảm ơn Thứ trưởng và chúc ông luôn mạnh khỏe để gánh vác trọng trách không dễ dàng này.
Trả lời:
Về tình hình cấp kinh phí theo QĐ 43 của TTgCP, bạn có thể xem phần trả lời câu hỏi của bạn Dương Văn Nhân), kinh phí được cấp sẽ được Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiện trong năm 2009, vì thế các cơ quan không phải vội vàng trong việc giải ngân, dễ dẫn tới lãng phí.
Về việc thiết lập trang/cổng thông tin điện tử tại các Bộ, địa phương, mặc dù không phải tất cả đều đã hợp lý và hiệu quả, nhưng tôi thấy tình hình không bi quan đến mức đó. Nếu có thể, đề nghị bạn liên hệ (email: nmhong@mic.gov.vn) để chúng tôi bố trí cán bộ trao đổi trực tiếp giúp bạn thấy tin tưởng hơn vào quyết tâm triển khai ứng dụng CNTT của Chính phủ, để bạn hiểu và chia sẻ, tại sao chúng tôi lại chọn cách làm như vậy.
Độc giả: Hoàng Tưởng - Bình giang, Hải dương
Kính chào Thứ trưởng: - Xin Thứ trưởng cho biết thực hiện Chính phủ điện tử đến cấp nào và đã triển khai từ bao giờ hiện đang ở mức độ nào. Trong khi lãnh đạo ở các cấp trình độ tin học còn bất cập, thì áp dụng chính phủ điện tử thế nào, hiện nay nhiều xã không có kết nối thì giải quyết trong thời gian tới như thế nào? Cám ơn Thứ trưởng.
Trả lời:
Phát triển Chính phủ điện tử là quá trình lâu dài, liên tục và được bắt đầu từ khi cơ quan nhà nước ứng dụng CNTT để trao đổi thông tin, thực hiện việc chỉ đạo, điều hành trong nội bộ, để nâng cao hiệu quả hoạt động, hiệu lực quản lý, cung cấp thông tin, cải thiện giao dịch với người dân và doanh nghiệp.
Ở Việt nam đến nay ứng dụng CNTT mới chủ yếu triển khai ở cấp tỉnh với việc cung cấp dịch vụ công ở mức 1 (cung cấp thông tin - hiện diện), mức 2 (cung cấp bản khai, biểu mẫu – giao dịch), một số quận huyện đã bước đầu triển khai. Để triển khai Chính phủ điện tử cần có các chương trình nâng cao nhận thức cho lãnh đạo các cấp. Để triển khai kết nối Internet đến xã, Bộ TT&TT đang triển khai nhiều chương trình, dự án cụ thể như Chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích đến 2010, Dự án Internet cộng đồng, các dự án tài trợ quốc tế,...
Độc giả: Nguyễn Tấn Dương - 35 đường 2-9, Phường 1, tx Vĩnh Long
Kính thưa Thứ trưởng, theo Quyết định 43 của Thủ tướng, các tỉnh còn khó khăn sẽ được TW hỗ trợ 1,1 tỷ đồng trong năm 2008, chúng tôi đã làm thủ tục trình UBND tỉnh phê duyệt và gửi Bộ theo hướng dẫn, nhưng đến nay chưa có thông tin gì từ Bộ (chúng tôi đã có công văn gửi Bộ); Để không lãng phí trong đầu tư, xin Bộ hằng năm có thông báo trước cho tỉnh biết những nội dung nào tỉnh cần đầu tư, những nội dung nào TW sẽ triển khai nhằm đảm bảo chương trình phát triển chung của Quốc gia; Kế hoạch ứng dụng CNTT năm 2009-2010 của TW còn vấn đề gì vướng mắc mà đế nay chưa được công bố; xin Bộ xem xét đầu tư cho Vĩnh Long 1 cơ sở đào tạo tin học chuẩn cấp Quốc gia đối với tỉnh còn khó khăn về ngân sách ở tỉnh Đống bằng sông Cửu Long.
Trả lời:
Về kinh phí ứng dụng CNTT theo QĐ 43, bạn có thể xem phần trả lời câu hỏi 1.c).
Về Kế hoạch 2009-2010 của TW, Bộ TT&TT đã nghiên cứu, xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ từ cuối tháng 7/2008 theo đúng yêu cầu về thời gian ghi trong QĐ 43. Thực hiện ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia về CNTT tại Phiên họp BCĐ ngày 21/11/2008, Bộ TT&TT đang rà soát, thống nhất với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp và sẽ trình lại Thủ tướng CP trong nửa đầu tháng 12/2008 để kịp phê duyệt trong năm 2008. Theo dự thảo Kế hoạch, các tỉnh khó khăn về ngân sách sẽ được TW hỗ trợ kinh phí trên cơ sở các dự án được duyệt phù hợp với mục tiêu, định hướng của Chính phủ.
Về đề nghị Bộ TT&TT xem xét đầu tư một cơ sở đào tạo tin học chuẩn cấp quốc gia cho Vĩnh Long (tỉnh khó khăn về ngân sách ở Đồng bằng SCL) là rất chính đáng, nhưng tiếc rằng Bộ TT&TT không quản lý một nguồn kinh phí nào để có thể cấp cho các địa phương được.
Độc giả: Hoang The Phuoc - 46, Duong 60, 60 Thao Dien , Q2
Nên lập diễn đàn cho Đề án 112, mổ xẻ nguyên nhân thất bại, đúc rút kinh nghiệm. Mong Thứ trưởng cho biết những gì Thứ trưởng cho là nguyên nhân khiến Đề án 112 thất bại, tôi sẽ chia sẻ ý kiến cá nhân của mình về việc liệu các dự án CNTT sắp tới có thể thành công hay không? CNTT là ngành mang nặng tính thực tiễn, kỹ thuật và công nghệ. Nhưng ai không từng đụng chạm thực tế, không thành công trong các dự án CNTT lớn, không nên giao quyền quản lý và đưa ra quyết định trong vấn đề này. Mỗi vấn đề liên quan đến dự án nên được xem xét, thảo luận trên diễn đàn, đảm bảo khả năng làm việc nhóm. Các văn bản, dữ liệu, luồng công việc (business flows) là vấn đề quyết định thành công, phải được xem xét cẩn thận từng dòng một. Luồng công việc (business flows) phải được thể hiện bằng sơ đồ và đưa vào thực tiễn áp dụng trước. Áp dụng thành công mới tính đến chuyện tin học hóa. Kính chào!
Trả lời:
Về phân tích nguyên nhân thất bại của Đề án 112, đã có nhiều báo cáo chính thức của các cơ quan có thẩm quyền nêu ra, ví dụ như:
- Các mục tiêu đặt ra cho Đề án 112 quá rộng, chưa cụ thể, khó triển khai. Kinh phí thực hiện Đề án được bố trí một khoản tiền theo kiểu ”xin nhiều được ít” dẫn đến nhiều mục tiêu đề ra không đạt được.
- Các địa phương chủ yếu chờ rót kinh phí từ trung ương xuống nên thiếu tính chủ động và chưa quan tâm tới hiệu quả ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước.
- Ban điều hành Đề án 112 không đủ năng lực tổ chức triển khai các đề án lớn dẫn đến thất bại. Do cơ chế tài chính rót kinh phí, luôn luôn thiếu nên dẫn tới tính ỷ lại của bên dưới.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu. Một số cơ chế kinh tế, tài chính, đầu tư không phù hợp với đặc thù của CNTT.
Trong quá trình xây dựng Kế hoạch ứng dụng CNTT và Chính phủ điện tử, Bộ TT&TT đã tổ chức một số Hội nghị tham vấn với: các chuyên gia CNTT có tên tuổi, các hãng CNTT nổi tiếng thế giới và các cán bộ quản lý CNTT đương nhiệm. Rất cám ơn thiện chí của bạn về việc đóng góp ý kiến cho các dự án sắp tới. Một diễn đàn trên mạng còn chưa tổ chức được, nếu có thể mong bạn gửi cho tôi (e-mail: nmhong@mic.gov.vn) những sáng kiến cụ thể để triển khai tốt hơn công tác ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN. Chúng tôi sẵn sàng lắng nghe.
Độc giả: Nguyễn Thị Hồng Xong, 32 tuổi - tổ dân phố 2 thị trấn La Hà - Tư Nghĩa - Quãng Ngãi
Kính thưa Thứ trưởng! Xin cho tôi được hỏi một câu hỏi hơi lạc đề một chút nhưng cũng thuộc thẩm quyền của Bộ TT&TT. Vì việc này rất cần, xin Thứ trưởng thông cảm. Tôi là một trong những hộ kinh doanh Internet trên địa bàn Thị trấn La Hà, nhưng gần trường THPT khoảng 110m. Theo Nghị định 55 của Chính phủ năm 2001, Thông tư liên tịch 02 và 60 là kinh doanh game online phải cách trường học 200m trở lên. Thì tháng 11 năm 2007, Đài viễn thông tỉnh + Sở TT&TT+Phòng Văn hóa thông tin huyện đã đến kiểm tra và buộc chúng tôi di dời, tôi đã di dời đi cách trường 210m để kinh doanh. Nhưng đến ngày 28/08/2008, Nghị định 97 được ban hành thay thế Nghị định 55 không còn nói đến khoảng cách nữa và ngày 12/11 thì lại có Thông tư hướng dẫn nên tôi đã dọn về nhà lại kinh doanh. Xin thưa với Thứ trưởng là tôi đã gọi điện thoại và hỏi hết các điểm kinh doanh Internet gần trường ở các nơi khác và trong toàn tỉnh Quảng Ngãi không nơi nào di dời hết. Từ ngày tôi chuyển về nhà đến nay thì mấy ông Sở và huyện đi kiểm tra 2 lần, lần nào cũng buộc di dời và lập biên bản phạt . Thì tôi có nói là Nghị định 97 đã ban hành và có luôn Thông tư hướng thay thế Nghị định 55 rồi mà sao lại nói di dời mãi vậy mà đâu có nơi nào di dời đâu. Mấy ông đó nói đây là quyết định của UBND tỉnh ra năm 2006,xin thưa với Thứ trưởng là quyết định này dựa theo Nghị định 55, Thông tư 02,60. Mới sáng hôm qua ngày 05/12/2008, mấy ông đó lại quyết định trong vòng 07 ngày nữa là phải di dời đi, nếu không sẽ cắt đường truyền và đình chỉ hoạt động. Xin thưa với Thứ trưởng là hiện tại bây giờ mấy ông đó thi hành theo quyết định của UBND tỉnh có đúng hay không và hiện tại thì tôi có bị di dời đi lần nữa không?để cho tôi được yên tâm hoạt động kinh doanh như những hộ kinh doanh khác. Xin chân thành cảm ơn Thứ trưởng rất nhiều.!
Trả lời:
Khoảng cách giữa đại lý cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến và cổng trường học được qui định tại Thông tư liên tịch số 60/2006/TTLT-BVHTT-BBCVT-BCA ngày 01/6/2006. Hiện nay Nghị định số 97 đã thay thế Nghị định 55, tuy nhiên chưa có văn bản nào thay thế Thông tư liên tịch này và chưa có qui định nào hủy bỏ Thông tư liên tịch này. Vì vậy, theo qui định của pháp luật hiện hành, những nội dung của Thông tư liên tịch này nếu không trái/mâu thuẫn với Nghị định 97 thì vẫn còn hiệu lực.
Phạm vi điều chỉnh của Thông tư 60 là tất cả các đại lý Internet trên toàn quốc, do đó không chỉ đối với các hộ kinh doanh Internet tại địa bàn thị trấn La Hà – Tư Nghĩa - Quảng Ngãi mà tất cả các đại lý Internet trên toàn quốc đều phải tuân thủ quy định trên.
Hiện nay, Bộ Thông tin và Truyền thông đang phối hợp với các Bộ ngành liên quan để dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về quản lý trò chơi trực tuyến thay thế cho Thông tư 60. Trong quá trình xây dựng dự thảo Quyết định trên, Ban soạn thảo sẽ rà soát, xem xét lại các quy định trong Thông tư 60 để đưa ra những biện pháp quản lý trò chơi trực tuyến hiệu quả hơn. Trong khi chưa có văn bản thay thế, các đại lý Internet vẫn cần phải nghiêm chỉnh tuân thủ qui định của Thông tư 60.
Độc giả: Hồ Minh - Q.3, TP.HCM
Cho tôi hỏi Thứ trưởng 2 câu hỏi: 1. Tôi nhận thấy rằng, cái gọi là Chính phủ điện tử hiện nay chỉ là những dịch vụ mà các cơ quan công quyền muốn cho thứ gì thì người dân được hưởng thứ đó, còn không cho thì... thôi! Theo tôi được biết, đã gọi là mô hình chính phủ điện tử phải có cơ sở dữ liệu dùng chung nhưng được biết, khâu này vẫn chưa có ai làm. Cơ sở dữ liệu của đơn vị nào thì đơn vị đó dùng. Theo thứ trưởng, hiện nay mô hình Chính phủ điện tử của Việt Nam đang ở cấp độ nào? 2. Muốn xây dựng mô hình Chính phủ điện tử phải dựa trên quy trình cải cách hành chính hợp lý. Dù đã có nhiều cải tiến nhưng thủ tục hành chính hiện nay ở nhiều bộ phận còn quá rườm rà. Vậy liệu chính phủ điện tử có đúng là "chính phủ điện tử" hay không? Ngoài ra, ai cũng biết nếu áp dụng chính phủ điện tử, những dịch vụ công sẽ thúc đẩy nhanh hơn, hiệu quả hơn mối quan hệ giữa nhà nước và công dân nhưng nhiều cán bộ vẫn chưa muốn ứng dụng mà vẫn thích quan hệ "mặt đối mặt" để thể hiện quyền lực và có điều kiện tham nhũng, vòi vĩnh công dân. Thứ trưởng có thể chia sẻ nhận xét này. Xin cảm ơn thứ trưởng đã quan tâm đến 2 ý kiến này.
Trả lời:
1. Theo mô hình tiến hóa Chính phủ điện tử của một số tổ chức quốc tế có 4 cấp độ (hiện diện, tương tác, giao dịch, tích hợp) thì Việt nam đang chủ yếu ở mức độ 1, đang chuyển sang mức độ 2 và một vài địa phương đã cung cấp được dịch vụ công ở cấp độ 3.
2. Việc triển khai Chính phủ điện tử là nhằm góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính. Công cuộc này đòi hỏi cán bộ công chức chuyển dần thói quen làm việc dựa trên giấy tờ, gặp mặt trực tiếp sang phong cách làm việc chủ yếu dựa vào văn bản điện tử và giao dịch điện tử trên môi trường mạng. Việc chuyển đổi thói quen trong bất cứ lĩnh vực nào đều cần có thời gian, không thể thay đổi ngay trong ngày một, ngày hai được.
Độc giả: Ngoc Bich - 222 lu gia
Ứng dụng công nghệ 3G rất hay, mặt dù đầu tư tốn kém nhưng hiệu quả mang lại khá cao, tại sao chúng ta lại không đầu tư để triển khai sớm công nghệ này, trong khi nước ngoài họ đã có 3,5G thậm chí 4G, việc ứng dụng công nghệ thông thì chậm chạp dẫn đến ta thua kém bạn bè các nước rất nhiều, mặt dù tốn kém cho công nghệ, nhưng việc công nghệ cao mang lại cho cuộc sống rất nhiều hữu ích.
Trả lời:
Cảm ơn bạn đã quan tâm và đánh giá tốt về vai trò của công nghệ 3G đối với việc thúc đẩy ứng dụng CNTT trong các ngành KTXH của đất nước. Hiện tại Bộ TT&TT đang cho các doanh nghiệp thi tuyển cấp phép 3G. Theo quy định của Hồ sơ mời thi tuyển thì các doanh nghiệp Việt Nam được cấp phép có quyền lựa chọn công nghệ 3G hoặc 3,5G để triển khai.
Theo số liệu thống kê của hiệp hội GSA thì tính đến hết tháng 3 năm 2008 mới chỉ có 91/195 các nước triển khai 3G. Hầu hết trong số đó là những nước đã phát triển. Đúng là chúng ta triển khai có hơi chậm so với những nước đó, tuy nhiên hầu hết các nước có điều kiện KTXH tương đương nước ta (Thái Lan, Trung Quốc) cũng vẫn đang trong quá trình chuẩn bị. Đến thời điểm này chúng ta mới bắt đầu cấp phép 3G sẽ có nhiều điểm lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, bởi công nghệ 3G đã chín, đầu tư cho hạ tầng kỹ thuật sẽ thấp hơn nhiều lần so với các năm trước đây; hơn nữa thiết bị đầu cuối rẻ và phong phú, kinh nghiệm triển khai và cung cấp dịch vụ 3G đã tương đối hoàn chỉnh. Đây cũng là những yếu tố có tính quyết định sự thành công của thị trường và của doanh nghiệp nước ta.
Độc giả: Mạnh Đạt - sóc sơn - hà nội
Xin hỏi thứ trưởng: Muốn phát triển chính phủ điện tử mạnh người đứng đầu các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực CNTT quản lý nhà nước có cần phải hiểu về CNTT hay không? tôi thấy ở các bộ ngành các anh lãnh đạo có vẻ không nắm CNTT nên có những chỉ đạo cũng chưa đúng lắm. Nhà nước có chủ trương ban hành chính sách thủ trưởng các đơn vị phải có hiểu biết sâu về CNTT hay không ít ra là trình độ từ cao đẳng trở lên? Xin cảm ơn thứ trưởng.
Trả lời:
Đúng là cán bộ lãnh đạo cần phải có những hiểu biết nhất định về CNTT, nhưng quan trọng nhất đối với lãnh đạo các cấp là nhận thức được tầm quan trọng của việc triển khai ứng dụng CNTT nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Vì vậy theo tôi, Nhà nước cần có các chương trình giúp cho lãnh đạo các cấp nâng cao hiểu biết về CNTT và nhận thức về tầm quan trọng của ứng dụng CNTT. Việc đưa ra yêu cầu về bằng cấp, theo tôi, chưa chắc đã phù hợp với yêu cầu thực tế mà đôi khi còn phát sinh những vấn đề khác. Tôi biết một số Giám đốc Sở TT&TT không phải “dân” CNTT nhưng lại triển khai ứng dụng CNTT rất có hiệu quả ở địa phương mình.
Độc giả: Nguyen gia Tuan Anh - Tp HCM
Câu hỏi: (Nguyen Gia Tuan Anh-Tp HCM-anhngt2006@gmail.com): Mong Thứ trưởng chia sẻ một bảng kế hoạch, gồm các cột : thời gian bắt đầu, thời gian hoàn thành, người chịu trách nhiệm, tên công việc, nội dung chính của công việc. Công việc ở đây là "chính phủ điện tử". Xin cám ơn.
Trả lời:
Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, từ nay đến 2010 chúng ta sẽ triển khai 02 kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN, tôi xin lỗi vì không có dưới dạng bảng. Kế hoạch năm 2008 đã được ban hành bởi Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg ngày 24/3/2008, bạn có thể tra cứu trên mạng được. Về Kế hoach ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009-2010 đang được hoàn thiện và có thể sẽ được Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt trong tháng 12/2008 với mục tiêu và định hướng ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN hướng tới Chính phủ điện tử đến năm 2010 và định hướng đến 2015 như sau:
1. Mục tiêu đến cuối năm 2010
1.1 Nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước
- Bảo đảm trung bình 60% (năm 2009 là 30%) các thông tin chỉ đạo, điều hành (Thông báo kết luận của Lãnh đạo tại các cuộc họp, hội nghị, một số văn bản do lãnh đạo ký gửi trả lời, hướng dẫn các cơ quan,…) của các cấp lãnh đạo từ các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được đưa lên cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của các cấp.
- Tỷ lệ trung bình cán bộ, công chức sử dụng thư điện tử cho công việc ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các thành phố trực thuộc Trung ương là 80% (năm 2009 là 70%), ở các tỉnh là 60% (năm 2009 là 50%), trong đó đối với các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa (tới cấp huyện) là 30% (năm 2009 là 20%).
- Tỷ lệ số Văn phòng các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các thành phố trực thuộc Trung ương triển khai sử dụng phần mềm ứng dụng quản lý văn bản và điều hành trên môi trường mạng là 90% (năm 2009 là 80%), đối với Văn phòng Ủy ban nhân dân các tỉnh là 90% (năm 2009 là 70%) và Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện là 50% (năm 2009 là 30%).
1.2 Phục vụ người dân và doanh nghiệpa) Bảo đảm 100% các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có cổng thông tin điện tử (hoặc trang thông tin điện tử) với đầy đủ thông tin theo quy định tại Điều 28 của Luật Công nghệ thông tin.
b) Bảo đảm 80% (năm 2009 là 60%) số cổng thông tin điện tử (hoặc trang thông tin điện tử) của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh và 100% số cổng thông tin điện tử của các thành phố trực thuộc Trung ương có cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 cho người dân và doanh nghiệp.
c) Đẩy mạnh triển khai cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 trên cổng thông tin điện tử của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
1.3 Xây dựng nền tảng cho Chính phủ điện tửXây dựng các thành phần nền tảng cho Chính phủ điện tử, để hướng tới từng bước triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước đồng bộ, thống nhất, với một hạ tầng thông tin hiện đại, tốc độ cao và môi trường pháp lý phù hợp. Trong đó, tập trung vào việc phát triển hạ tầng truyền thông, cơ sở dữ liệu, kiến trúc và chuẩn, các mô hình điểm; triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin; hoàn chỉnh môi trường pháp lý.
2. Định hướng đến năm 2015
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước nhằm từng bước chuyển thói quen làm việc của cán bộ, công chức dựa trên văn bản giấy sang phong cách làm việc dựa trên văn bản điện tử trên môi trường mạng và hệ thống thông tin trợ giúp. Xây dựng môi trường làm việc điện tử giữa các cơ quan nhà nước trên phạm vi toàn quốc;
- Ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương thức cung cấp thông tin và dịch vụ hành chính công cho người dân và doanh nghiệp. Phấn đấu đến 2015 cung cấp hầu hết các dịch vụ hành chính công cơ bản trực tuyến mức độ 3 hoặc 4 phục vụ người dân và doanh nghiệp (người dân và doanh nghiệp có thể trao đổi thông tin, gửi, nhận hồ sơ qua mạng, thanh toán phí dịch vụ qua mạng, nhận kết quả dịch vụ mà không cần đến các cơ quan cung cấp dịch vụ).
- Ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới cách thức quản lý tài nguyên thông tin trong các cơ quan nhà nước. Phát triển các cơ sở dữ liệu quốc gia về con người, đất đai, tài chính, kinh tế, công nghiệp và thương mại tạo nền tảng triển khai Chính phủ điện tử. Từng bước tích hợp các hệ thống thông tin, tiếp tục xây dựng và mở rộng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạt động quản lý, điều hành chung của cơ quan và phục vụ người dân.
Độc giả: Ngô Thế Vinh - P107 A2, KTX HV Báo chí - Tuyên truyền, 123 Nguyễn Phong Sắc,Hà Nội
Ngô Thế Vinh-P107 A2, KTX HV Báo chí - Tuyên truyền, 123 Nguyễn Phong Sắc,Hà Nội-ntvim88@yahoo.com): Thưa Thứ trưởng, việc chúng ta đầu tư xây dựng các trang thông tin điện tử (TTĐT) của địa phương là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với môi trường và xu hướng thời đại. Tuy nhiên cháu thấy dường như các cổng TTĐT đó như chỉ xây dựng lên mà không có mấy tác dụng, rất ít cổng thông tin nào làm được chức năng là cập nhật thông tin, tình hình chính trị - kinh tế - xã hội của địa phương chứ chưa nói đến việc tham gia vào cung cấp các dịch vụ công. Cháu thấy nhân lực CNTT của nước ta không thiếu và kinh phí để thực hiện một cổng thông tin điện tử cũng không phải là cao so với ngân sách các địa phương. Cháu xin hỏi theo Thứ trưởng đâu là nguyên nhân của vấn đề nội dung nghèo nàn và thiếu cập nhật của các cổng TTĐT, Bộ Thông tin – Truyền thông có các chế tài, công cụ cũng như đội ngũ nào để kiểm tra đôn đốc hoạt động của các cổng thông tin điện tử địa phương? Xin chân thành cảm ơn Thứ trưởng!
Trả lời:
Đúng là có nhiều trang tin điện tử còn chưa cung cấp đầy đủ thông tin đúng theo quy định tại Luật Công nghệ thông tin, thông tin nghèo nàn, cập nhật không thường xuyên. Theo tôi, nguyên nhân cơ bản nhất là nhận thức của lãnh đạo địa phương. Lãnh đạo địa phương nào quan tâm đến ứng dụng CNTT nói chung và phát triển TTĐT nói riêng thì thông tin phong phú và cung cấp được nhiều dịch vụ công trực tuyến.
Về chế tài thì đã có trong Nghị định 63/2007/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực CNTT đã có quy định cụ thể, ví dụ, khoản 3 điều 7.
Về việc kiểm tra đôn đốc, Bộ TT&TT đang làm rất quyết liệt. Đầu tháng 7 năm 2008, Bộ TT&TT đã công bố kết quả đánh giá website của các Bộ, tỉnh và dự kiến trong tháng 12/2008 sẽ công bố xếp hạng website của các Bộ, tỉnh. Ngoài ra Bộ TT&TT đã có công văn đôn đốc các tỉnh chưa có website chính thức nhanh chóng đưa website vào hoạt động.
Độc giả: Võ Hữu Nghị - 124/45-đường 3/2-hưng lợi-ninh kiều - cần thơ
Cho con hỏi: Chính phủ phát triển quản lý nhà nước bằng CNTT. Liệu an toàn bí mật quốc có được giữ vửng không?. Sau này các thế hệ sinh viên ra trường có cơ hội việc làm không?
Trả lời:
Đảm bảo an toàn, bí mật thông tin luôn luôn là một nhiệm vụ rất quan trọng của các hệ thống thông tin. Đặc biệt để áp dụng quản lý Nhà nước bằng CNTT, nói cách khác để xây dựng Chính phủ điện tử (CPĐT) thì yêu cầu giữ vững an toàn bí mật thông tin là điều kiện tiên quyết. Pháp lệnh số 30/2000/PL-UBTVQH10 về Bảo vệ bí mật Nhà nước do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành năm 2000 phải được tuân thủ nghiêm ngặt. Có thể nói bảo vệ an toàn, an ninh thông tin cho CPĐT là một trong các vấn đề rất được chú trọng ngay trong quá trình xây dựng và triển khai CPĐT ở VN. Để có một CPĐT an toàn, chúng ta không chỉ chú trọng trong thiết kế và đầu tư các hệ thống bảo vệ mà còn phải hoàn thiện hệ thống pháp luật đảm bảo an toàn thông tin, ban hành và thực hiện các tiêu chuẩn kỹ thuật và quản lý an toàn thông tin, triển khai chương trình nâng cao nhận thức và đào tạo theo chuẩn mực về an toàn thông tin, xây dựng lực lượng quản lý và kỹ thuật chuyên trách, hình thành tổ chức và cơ chế phối hợp trong nước và hợp tác quốc tế đảm bảo an toàn, an ninh thông tin. Tóm lại, song song với việc áp dụng CNTT vào quản lý Nhà nước, chúng ta phải xây dựng các thiết chế đảm bảo an toàn thông tin cho quốc gia và áp dụng các giải pháp thích hợp trong từng điều kiện cụ thể. Không thể ứng dụng CNTT mà không giữ vững an toàn bí mật quốc gia. Liên quan đến câu hỏi về cơ hội việc làm của sinh viên ra trường, tôi cho rằng ứng dụng CNTT trong quản lý Nhà nước sẽ đòi hỏi nhiều nhân lực chất lượng cao hơn, giảm nhu cầu với nhân sự thủ công chất lượng thấp, do đó sẽ tạo thêm việc làm cho sinh viên ra trường, đặc biệt các sinh viên có trình độ sử dụng CNTT.
Độc giả: Phạm Văn Hiện - phường Khương Mai, Thanh Xuân, HN
Câu hỏi: (Phạm Văn Hiện-phường Khương Mai, Thanh Xuân, HN-khuongmaihn@gmail.com): Ứng dụng CNTT là vấn đề mà lâu nay các cấp, các ngành đều hô hào và hưởng ứng, song hiệu quả lại chưa cao. Thể hiện ở chỗ chúng ta chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu dùng chung cho các cấp, các ngành, chưa xây dựng được các chương trình ứng dụng có hiệu quả để phục vụ cho công việc hàng ngày, và ở đâu đó có những đồng chí (kể cả lãnh đạo) chưa thực sự quan tâm đến việc này. Thực trạng ứng dụng CNTT của ta hiện nay chưa bắt buộc để mỗi cán bộ, công chức gắn với công việc của mình (tức là mọi người giải quyết công việc, toạ đàm, trao đổi, báo cáo, ... chưa có những chương trình phục vụ cụ thể, nhất là trong cơ quan hành chính nhà nước); chưa kể đến việc bồi dưỡng, đào tạo (chuẩn) đội ngũ cán bộ công chức biết sử dụng CNTT trong lĩnh vực của mình. Tôi nghĩ, đây là thách thức lớn, đòi hỏi mọi cấp, mọi ngành và mọi người đều phải vào cuộc, và coi đây là một tiêu chí bắt buộc để thực hiện. Vậy theo Thứ trưởng trong thời gian tới chúng ta có làm tốt không, bắt đầu từ đâu, và lộ trình ra sao? Xin cảm ơn!
Trả lời:
Thực trạng ứng dụng CNTT còn nhiều vấn đề tồn tại. Chắc chắn trong thời gian tới chúng ta phải khắc phục được những điểm còn tồn tại đó. Chúng ta cố gắng làm tốt, và để làm tốt “đòi hỏi mọi cấp, mọi ngành và mọi người đều phải vào cuộc”, rất mong bạn sẽ “vào cuộc” cùng chúng tôi.
Hiện nay Bộ TT&TT đang tổ chức triển khai Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2008 và trình Thủ tướng ban hành Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN giai đoạn 2009-2010. Sau hai Kế hoạch này, theo quy định của Luật CNTT, Nghị định 64 chúng ta sẽ xây dựng và triển khai Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015.
Độc giả: Nguyễn Vương Anh - 19 Đông Quan Cầu Giấy Hà Nội
Câu hỏi: (Nguyễn Vương Anh-19 Đông Quan Cầu Giấy Hà Nội-vuonganh172003@gmail.com): Bản thân là một người ở lĩnh vực công nghệ, tôi rất mong muốn chúng ta tận dụng được sức bẩy của công nghệ để đưa Việt Nam lên tầm cao mới. Có kiến thức về các công nghệ trong quản lý, nhiều giải pháp đã áp dụng nhiều tổ chức lớn trên thế giới. Nhưng hiện tại tôi vẫn mù mờ về mô hình chính phủ điện tử VN đang hướng tới. Vì vậy với mong muốn giúp các bộ ban ngành nhà nước áp dụng công nghệ trong việc quản lý, xử lý công việc của từng nơi mình muốn hỏi một vài thắc mắc như sau: 1. Khung của bộ máy chính phủ điện tử ra sao. Các bộ, ban ngành của từng tỉnh muốn triển khai cần đạt các yêu cầu gì. 2. Có được áp dụng các giải pháp mở cho việc quản lý không. 3. Chính phủ điện tử ra đời sẽ giải quyết được những yếu tố trọng tâm gì so với tình trạng hiện nay. 4. Muốn giúp các tổ chức bộ ban ngành hình thành thói quen làm việc trên dữ liệu điện tử và tư vấn các giải pháp trong quản lý bộ máy của từng tỉnh thì liên hệ với ai. Thiết nghĩ những câu hỏi trên giúp tôi hiểu hơn về tầm nhìn cũng như định hướng của mô hình chính phủ điện tử thực hiện ở nước ta. Với kiến thức của mình tôi tin có thể giảm nhẹ gánh nặng trong công việc qua quy trình quản lý, công việc tự động đã triển khai nhiều tổ chức lớn trên thế giới. Giúp công việc trôi chảy thông thoáng hơn. Gần dân hơn. Xin chân thành cám ơn.
Trả lời:
Những vấn đề bạn nêu ra là những vấn đề lớn khó có thể nói hết trong một câu trả lời. Tôi đề nghị bạn liên hệ với tôi (e-mail:nmhong@mic.gov.vn) hoặc anh Nguyễn Thành Phúc, Cục trưởng Cục Ứng dụng CNTT (e-mail: ntphuc@mic.gov.vn) để bố trí cán bộ có thẩm quyền, am hiểu công nghệ gặp và trao đổi kỹ với bạn. Hy vọng rằng với năng lực và tâm huyết của bạn, bạn sẽ góp một phần công sức vào công cuộc Ứng dụng CNTT hướng tới phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam. Trân trọng!
Độc giả: Chu Văn Nhân - 162-Nguyễn Văn Cừ, Long Biên , Hà Nội
Khi nói đến Chính phủ điện tử, dưới giác độ thông tin có hai vấn đề căn bản và bức xúc phải giải quyết đó là: sự liên kết trao đổi thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước với nhau và trao đổi thông tin của cơ quan nhà nước với xã hội. Hiện nay có tình trạng cơ quan nhà nước mạnh ai nấy lo, “xa lộ thông tin" thường xuyên tắc nghẽn, kinh phí ngân sách chi tiêu xây dựng hạ tầng cơ sở cho mỗi ngành, mỗi đơn vị hết sức tốn kém. Bộ TT-TT có giải pháp gì giúp Chính phủ và nhân dân tháo gỡ khó khăn trên?
Trả lời:
Đúng là trong bức tranh CNTT Việt nam còn nhiều hình ảnh có gam màu tối, nhưng cũng có những hình ảnh tươi sáng trong bức tranh này. Thực tế đã có các mô hình ứng dụng CNTT hướng tới Chính phủ điện tử gặt hái được những thành quả bước đầu như TP. Hồ Chí Minh, Lào Cai, Quận Tây Hồ - Hà Nội, Quận Ngô Quyền - Hải Phòng. Với chức năng nhiệm vụ được Chính phủ giao, Bộ TT&TT đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp (xây dựng chính sách, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, hướng dẫn triển khai, kiểm tra, đôn đốc, giám sát….) để bức tranh CNTT Việt nam ngày càng sáng hơn.
Độc giả: ma tri thong - vinh long
Bộ nghĩ gì khi có một vấn đề quản lý cơ bản: quản lý chính phủ điện tử và thay đổi toàn diện từ sự thay đổi quản lý của số CMND 1. quản lý số CMND: không cần quản lý hộ khẩu , không cần mã số thuế TNCN, không cần quản lý giấy phép lái xe,... 2. quản lý số CMND: cho biết công dân đó đang làm gì, ở đâu, lương bao nhiêu... 3.quản lý số CMND: quản lý được thương mại điện tử. ai mua cái gì, ai bán cái gì.... 4. vấn đề là luật liên quan đến chuyện quản lý số CMND và cái nền công nghệ thông tin đến từng phường xã và sự kết nối hệ thống giữa chính phủ , ngân hàng, thuế và công an... và khi đó chuyện chống tham nhũng, trốn thuế, gian lận thương mại điện tử sẽ dể dàng hơn. Nếu có yêu cầu tôi sẽ diễn giải từng chi tiết trong quá trình thay đổ quản lý từ số CMND. Thân
Trả lời:
Tôi rất đồng tình với ý kiến của bạn. Rất mong bạn sớm gửi cho tôi (e-mail:nmhong@mic.gov.vn) và anh Nguyễn Thành Phúc Cục trưởng Cục Ứng dụng CNTT (e-mail:ntphuc@mic.gov.vn) đề xuất của bạn. Chúng tôi sẽ tổ chức nghiên cứu nghiêm túc và trao đổi lại với bạn quan điểm của chúng tôi sau khi nhận được đề xuất của bạn.
Độc giả: Lâm Lê - Quảng Ngãi
Tôi có ba câu hỏi xin thứ trưởng giải đáp: Theo thứ trưởng, (1) một cách ngắn gọn, chính phủ điện tử là gì? (2) Ngoài chủ trương và chính sách khuyến khích việc triển khai chính phủ điện tử, chúng ta đang thiếu những gì để có được chính phủ điện tử thật sự? (3) Bộ TT&TT sẽ có kế hoạch như thế nào (làm gì và thời gian) để lấp những chỗ thiếu này nhằm hướng đến một chính phủ điện tử? Xin chân thành cám ơn thứ trưởng.
Trả lời:
1. Một cách ngắn gọn nhất, Chính phủ điện tử là Chính phủ ứng dụng CNTT để hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, minh bạch hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn và phát huy vai trò làm chủ của người dân mạnh mẽ hơn.
2. Theo tôi chúng ta cần tích cực triển khai những nội dung sau để phát triển Chính phủ điện tử:
- Nâng cao nhận thức của lãnh đạo các cấp về tầm quan trọng của Chính phủ điện tử
- Hoàn thiện môi trường pháp lý
- Phát triển nguồn nhân lực phụ vụ phát triển Chính phủ điện tử, đặc biệt là đội ngũ giám đốc CNTT, cán bộ chuyên trách về CNTT
- Phát triển cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ Chính phủ điện tử
- Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và hình thành văn hóa chia sẻ thông tin trong các CQNN
3. Bộ TT&TT đang tổ chức triển khai Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2008 và trình Thủ tướng CP ban hành Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN giai đoạn 2009-2010. Sau hai Kế hoạch này, theo quy định của Luật CNTT chúng ta sẽ xây dựng và triển khai Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015.
Độc giả: lengo dang quang - lac xuan tinh lam dong huyen don duong
Việc phát triển và các dịch vụ di động có ảnh hưởng như thế nào về kinh tế (tiêu cực, tích cực), xã hội và đời sống.
Trả lời:
Viễn thông là một trong các cơ sở hạ tầng quan trọng của quốc gia và là 1 trong các ngành kinh tế xã hội quan trọng của đất nước. Vì vậy, về tổng thể, dịch vụ viễn thông nói chung và dịch vụ Internet, di động nói riêng phát triển là một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển các ngành khoa học, văn hóa, xã hội và trực tiếp góp phần tăng trưởng kinh tế cho quốc gia, làm thay đổi tích cực đến đời sống tinh thần, văn hóa của xã hội. Tuy nhiên, Internet và dịch vụ di động cũng có thể bị lợi dụng như những phương tiện truyền thông khác để phát tán, tuyên truyền những thông tin không có lợi đối với sự phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội. Nhìn chung đối với dịch vụ Internet và di động, việc đăng ký, sử dụng dịch vụ rất đơn giản, đặc biệt đối với SIM di động trả trước. Điều này dẫn đến một số khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc đối phó với những thông tin độc hại và bất hợp pháp lan truyền trên mạng thông tin di động. Chính vì vậy, Bộ thông tin và truyền thông đã và đang phối hợp với các Bộ ngành liên quan và các doanh nghiệp cung cấp Internet, di động để có những biện pháp quản lý phù hợp hơn, nhằm phát huy những mặt tích cực và giảm thiểu những tiêu cực do dịch vụ này mang lại cho xã hội.
Độc giả: Trần Anh Dũng - Lâm Đồng
Xin chào Thứ trưởng. Tôi thấy Bộ TTTT rất quan tâm đến việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, điều này thể hiện rõ nhất thông qua việc Bộ đã chủ trì nhiều cuộc giao lưu trả lời trực tuyến về chủ đề này. Tuy nhiên tôi thấy tiến độ triển khai thì quá ư là chậm chạp. Năm 2008 sắp trôi qua mà nhiều địa phương kế hoạch CNTT 2008 cũng đang chỉ trên giấy, việc thực hiện Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg ngày 24/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ ở nhiều địa phương cũng chưa động tỉnh gì, có chăng là những báo cáo không trung thực, đối phó của các Sở TTTT gửi cho Bộ, tất cả chỉ là thụ động chờ tiền hỗ trợ của Chính phủ theo phân bổ trong QĐ 43 mỗi tỉnh 1,1 tỷ đồng. Việc này Thứ trưởng có biết không? Bộ sẽ xử lý việc này như thế nào? Xin cám ơn Thứ trưởng đã quan tâm<